Thứ năm, 14/05/2015, 10:06:10

Chi tiết tin tức

Văn hóa xã hội

Lễ hội truyền thống Bà Thu Bồn – Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia

Ngày đăng: 14:47 | 25/02 Lượt xem: 576

Nguồn gốc lễ hội và đối tượng thờ cúng tại lễ hội:
Tỉnh Quảng Nam có hệ thống sông ngòi rất lớn, trong đó có sông Thu Bồn - dân gian gọi là Sông Mẹ, dòng sông xứ sở đã ăn sâu vào tri thức dân gian của cộng đồng nhân dân sinh sống dọc lưu vực sông Thu Bồn với sinh lực cội nguồn của nhiều giá trị về lịch sử, văn hóa. Ở phía thượng nguồn, tại làng Trung An, xã Quế Trung, huyện Nông Sơn và hạ nguồn tại làng Thu Bồn, xã Duy Tân, huyện Duy Xuyên là hai địa phương cùng lúc tổ chức Lễ hội Bà Thu Bồn trong cùng một thời điểm, chứng tỏ quá trình cộng cư của cư dân nơi đây đã có mối quan hệ gắn bó trong suốt chiều dài lịch sử và văn hóa.

Thần Thiên Y A Na  hay còn gọi là Bà Mẹ xứ sở, bà Chúa Ngọc, người Chăm gọi là Nữ thần Poh Nagar (hay Pô Ino Nogar), là vị Nữ thần được thờ phụng ở nhiều nơi, đặc biệt là những vùng đất có cư dân Chăm sinh sống. Cư dân người Việt và người Chăm đều có những sự tích về bà, những sự tích này tuy có những chi tiết khác biệt nhưng tựu chung lại đều có những điểm giống nhau về chủ đề, cấu trúc, hình tượng và ý nghĩa, đó là kết quả của sự giao thoa, tiếp biến văn hóa của hai dân tộc Việt - Chăm. Hình tượng Nữ thần Thiên Y A Na trong tín ngưỡng dân gian mang đậm dấu ấn của tín ngưỡng nguyên thủy của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước. Khắp các địa phương tỉnh Quảng Nam nói riêng và các tỉnh miền Trung, từ Quảng Nam, Bình Định, Khánh Hòa … việc thờ Nữ thần Poh Nagar của người Chăm, dần dần đã được Việt hóa thành tín ngưỡng thờ Thiên Y A Na. Dưới thời triều Nguyễn, các vua Minh Mệnh, Tự Đức, Khải Định… đều ban sắc phong tặng cho Bà là “Hồng nhân Phổ tế Linh ứng Thượng đẳng thần”. Tại Quảng Nam, rất nhiều nơi đều ghi lại dấu tích thờ phụng Nữ thần này, đặc biệt là vùng sông Thu Bồn, Bắc Quảng Nam.

Lễ hội Bà Thu Bồn ở Quảng Nam là một hình thái lễ hội dân gian được hình thành từ khi người Việt ở vùng Thanh Nghệ, Đại Việt qua nhiều đợt di cư đến khai phá vùng đất mới, lập làng, lập xã hiệu vào thế kỷ XIV và được bảo tồn, phát triển cho đến ngày nay. Tại vùng đất Quảng Nam, dọc lưu vực sông Thu Bồn, cộng đồng người Việt đã tụ cư và giao thoa tiếp biến với văn hóa Chămpa để tạo nên tín ngưỡng thờ mẫu Bà Thu Bồn, cho đến hiện nay, nghi thức lễ rước nước tại Lễ hội Bà Thu Bồn hằng năm cũng là yếu tố văn hóa biến thể từ nguồn gốc tín ngưỡng của người Chăm xưa.

Lễ hội Bà Thu Bồn xuất phát từ truyền thuyết, huyền tích về sự hiển linh của Bà Thu Bồn. Đó là hoá thân của vợ, hay con gái đồng trinh của một vị tướng hay vua Mây, vua Chàm, vua Việt... Tuy nhiên, cộng đồng cư dân ở dọc sông Thu Bồn, Quảng Nam đều thống nhất cho rằng Phường Rạnh, làng Trung An, xã Quế Trung, huyện Quế Sơn (trước năm 1945 là làng Xuân Yên, tổng Trung Lộc, huyện Quế Sơn) là nơi sinh quán, hay cụ thể, chính là nơi Bà Thu Bồn tử trận. Bà ngã xuống bên sông Thu Bồn và dòng nước cuốn trôi đưa thi thể Bà về bến sông của làng Thu Bồn, xã Duy Tân, huyện Duy Xuyên (trước năm 1945 thuộc tổng Mậu Hòa, huyện Duy Xuyên). Đến đây, thi hài Bà tràn ngập hương thơm và dừng lại, không chịu rời làng Thu Bồn theo dòng nước. Nhân dân kính phục đức hy sinh cao cả và sự linh hiển, phò trợ của Bà nên làm lễ an táng và thiết trí lăng mộ, xây dựng miếu đền thờ tự Bà một cách quy mô, thiêng liêng, trang trọng, với đầy đủ y phục, voi, ngựa, người hầu, nghi trượng, pháp khí...

Trong tín ngưỡng dân gian của cư dân sinh sống trên lưu vực sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam cho rằng Bà Thu Bồn là một hóa thân của Bà Mẹ Xứ Sở - Thiên Y A Na Diễn Phi Chúa Ngọc (Bà Chúa Ngọc), theo kết quả khảo sát từ đầu thế kỳ XX của Hội Folklore Đông Dương, của Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp và các bậc cao niên ở làng hiện nay, Bà Chúa Ngọc đã từng hiện diện chính thức trong Lăng Bà và phía trước lăng, còn có cả hai miếu của Nhị vị công tử (cậu Quý, cậu Tài)...

Trên bình diện nghiên cứu về văn hóa dân gian, có thể nhận thấy rằng Bà Thu Bồn giữ được tính chất của tín ngưỡng thờ Mẫu nguyên thủy mà tinh thần chủ đạo cho việc hình thành ý tưởng là Lễ rước nước trong Lệ Bà Thu Bồn, gắn liền và xâu chuỗi mối quan hệ từ rất lâu đời giữa Lăng Bà Thu Bồn và Dinh Bà Phường Rạnh nói riêng, cùng như giữa hai cộng đồng cư dân Thu Bồn - Trung Yên dọc lưu vực sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam. Hiện nay, Lễ hội Bà Thu Bồn hằng năm không những là Lễ hội quan trọng của các địa phương địa phương ở lưu vực sông Thu Bồn mà còn lan tỏa ra cả tỉnh Quảng Nam và các tỉnh duyên hải miền Trung tương tự như Lễ hội Điện Hòn Chén, thành phố Huế và Lễ hội Bà Ponaga ở Nha Trang.

Với những giá trị quý báu về lịch sử văn hóa, Lăng Bà Thu Bồn tại làng Thu Bồn, xã Duy Tân, huyện Duy Xuyên được UBND tỉnh Quảng Nam xếp hạng di tích cấp tỉnh tại Quyết định số 436/QĐ-UB ngày 15/02/2005 và Dinh Bà Thu Bồn tại Phường Rạnh, làng Trung An, xã Quế Trung, huyện Quế Sơn đã được UBND tỉnh Quảng Nam xếp hạng di tích cấp tỉnh tại Quyết định số 130/QĐ-UBND, ngày 10/01/2008.

Lễ hội Bà Thu Bồn diễn ra đồng thời tại 2 địa phương là xã Duy Tân, huyện Duy Xuyên và xã Quế Trung, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.

+ Lễ hội bà Thu Bồn ở xã Duy Tân, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam

Làng Thu Bồn, trước năm 1945 thuộc tổng Mậu Hòa, huyện Duy Xuyên, được tạo nên từ hai thôn là Thu Bồn Đông và Thu Bồn Tây, nay thuộc xã Duy Tân (huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam), phía Đông giáp làng Phú Nhuận, phía Nam giáp làng Mậu Chánh, Phía Tây giáp làng Phú Đa, Phía Tây Bắc giáp sông Thu Bồn.

Theo ông Thái Văn Lịch, một bậc cao niên có uy tín trong làng, thì trước đây, địa bạ của làng Thu Bồn từng ghi nhận rằng làng có diện tích 375 mẫu, trong đó có 60 mẫu bạch sa (cát trắng), 75 mẫu công điền; 1,6 mẫu tự điền ở xứ Ô Kha và đặc biệt là làng từng có tới 1,7 mẫu Ruộng Bà.

Theo kết quả khảo sát thực tế thông qua công tác tư liệu thư tịch văn bản, phỏng vấn hồi cố… chứng minh được hiện diện và vai trò nổi bật của Lục tộc tiền hiền là Trịnh, Thái, Võ, Lê, Nguyễn, Trần, với số thế hệ được ghi trong gia phả lẫn truyền khẩu, tế tự lên đến từ 15 - 18 đời, tính cho tới hiện nay.

Lăng Bà được coi là trung tâm tín ngưỡng lễ nghi tối thượng của người dân làng Thu Bồn nói riêng và cả cộng đồng cư dân dọc lưu vực sông Thu Bồn - xứ Quảng nói chung nên việc tổ chức lễ nghi cũng tế, lễ hội thường niên (nói chung là Lệ Bà Thu Bồn) rất được coi trọng.

Lăng Bà Thu Bồn ở vị trí trung tâm giữa làng Thu Bồn, nằm ở bờ nam sông Thu Bồn, trên một khuôn viên có diện tích khá rộng thể hiện sự tôn kính và sự thành tâm đền đáp ơn cao đức trọng của Bà. Lăng được xây dựng theo kết cấu hình chữ Đinh (丁). Toàn bộ công trình được xây dựng bằng bê tông cốt thép với hệ thống vì kèo giả gỗ. Chánh điện được thiết kế theo lối nhà ba gian, trốn cột để tận dụng được toàn bộ không gian cho việc bố trí các bệ thờ, không gian lễ nghi. Án ngữ phía trước lăng Bà là bức bình phong Long Mã, phía trước mặt Lăng Bà, chếch về bên trái, hiện nay còn một tấm bia bằng đá sa thạch với các dấu tích chữ khắc (Sancrit) của người Chăm xưa ở vùng đất này, tuy nhiên hiện nay mặt bia đã bị bào mòn.

Qua khảo sát thực tế và nghiên cứu cho thấy nội dung về thần tích, truyền thuyết đã được hệ thống hóa, với nhiều tình tiết mang đậm dấu ấn linh thiêng, huyền bí của văn hóa dân gian. Theo đó thì từ xa xưa, tại chính trên mảnh đất làng Thu Bồn hiện nay, có một gia đình giàu có sinh hạ được một người con gái. Điểm đặc biệt đến mức khác thường là từ lúc lọt lòng mẹ, cô gái đã có mái tóc dài ngang lưng, răng trắng ngà, nước da trắng như bông bưởi và với khuôn mặt đẹp tựa thiên thần. Nghe chuyện lạ đời, người người khắp nơi đổ dồn đến xem, ai ai cũng cảm mến và ước mơ mình sinh được một đứa con xinh đẹp như vậy. Đặc biệt hơn là Bà chỉ cười mà không hề cất tiếng khóc khi chào đời.

Lên năm tuổi Bà đã biết dùng các loại lá, rễ cây trong vườn để chữa bệnh cho người và gia súc. Bà chữa được tất cả các loại bệnh và từ đó tiếng lành đồn xa, người ta tìm đến nhờ Bà chữa bệnh ngày càng đông và mãi mãi, Bà chỉ hết mình giúp đời, không hề nhận lấy chút tiền công hay lễ vật mọn làm quà từ thân nhân. Đến tuổi thanh xuân, Bà vẫn mải mê cứu người độ thế mà sẵn sàng bỏ qua mọi lời cầu hôn, dạm ngõ của các bậc thế gia vọng tộc trong làng, và cả từ khắp nơi trong vùng.

Cho đến năm 50 tuổi thì Bà quy tiên đúng vào trưa ngày 12.2 âm lịch. Dân làng tuân thủ di nguyện của Bà, không dùng vải vóc khâm liệm mà chỉ dùng cỏ cây, hoa lá thiên nhiên. Quan tài được quản tại đình làng suốt cả tuần, hương lý chức sắc và các vị bô lão trong làng thường xuyên túc trực khói hương. Đến đêm thứ bảy thì khắp cả trong khu vực đình làng, nơi nơi đều dâng trào hương thơm ngào ngạt và bỗng nhiên, nắp quan tài mở tung, nhưng bên trong chỉ ngập tràn hoa sứ mà không hề có thi hài của Bà.

Từ đó, dân làng thành kính cung nghinh cỗ quan tài đầy hoa sứ về thờ phụng, xây dựng nơi đây trở thành khu lăng mộ to lớn, thiêng liêng, trang trọng, mà dân gian kính cẩn tôn xưng là “Dinh” - để đền đáp, tưởng nhớ công lao to lớn của Bà lúc sinh thời cũng như sự linh hiển của Bà sau khi mất.

Ngoài ra, dân gian cũng lưu truyền phổ biến truyền thuyết cho rằng Bà vốn dòng thế phiệt trâm anh, nhưng với hai giả thiết hoàn toàn có sự khác biệt về nguồn gốc Việt hay phi Việt.

Thứ nhất, Bà là con gái của vua Chămpa hay Bà là một nữ tướng của vua Chămpa; thứ hai, Bà là con gái vua Lê Thánh Tông hay Bà là một nữ tướng của vua Lê Thánh Tông. Ở đây, dù nguồn gốc xuất thân có khác nhau đi nữa nhưng tất cả vẫn chung một điểm thống nhất là Bà có mái tóc đẹp, rất dài và trong lúc cuộc chiến giữa hai bên đang căng thẳng và quân của Bà trong chiều hướng bị động, thất thế thì phải rút quân. Trên đoạn đường đi tóc dài của Bà đã vướng vào cây cối bên đường, làm Bà ngã ngựa (truyền thuyết Việt), hay ngã voi (truyền thuyết Chămpa). Vì vậy, Bà tử tiết và hiển linh, trở thành vị nữ thần linh thiêng, đầy quyền uy, bảo vệ cho cộng đồng cư dân làng xã dọc lưu vực sông Thu Bồn, đặc biệt là ở làng Thu Bồn và Phường Rạnh, là hai địa điểm gắn liền với truyền thuyết về sinh quán và nơi tử nạn của Bà trong cuộc chiến chính nghĩa đó, từ xa xưa trong lịch sử và văn hóa của vùng đất này.

Có nhiều truyền thuyết, huyền tích, giai thoại đề cập đến sự hiển linh của Bà Thu Bồn. Đó là hoá thân của vợ, hay con gái đồng trinh của một vị tướng hay vua Mây, vua Lồi, vua Chàm, vua Việt... Tất cả đều thống nhất cho rằng Phường Rạnh là sinh quán, hay cụ thể, là nơi Bà tử trận. Bà ngã xuống bên sông Thu Bồn và dòng nước đã ôm ấp, đưa Bà về bến sông của làng Thu Bồn. Đến đây, thi hài Bà tràn ngập hương thơm và dừng lại, không chịu rời làng Thu Bồn theo dòng nước. Nhân dân kính phục đức hy sinh cao cả và sự linh hiển, phò trợ của Bà nên làm lễ an táng và thiết trí lăng mộ, miếu đền thờ tự Bà một cách quy mô, thiêng liêng, trang trọng, với đầy đủ y phục, voi, ngựa, người hầu, nghi trượng, pháp khí... Tuy nhiên, đáng tiếc là đến nay, tất cả đã bị thất tán nhiều.

Làng Thu Bồn nay còn lưu giữ được 8 sắc phong: 1 sắc phong thời Minh Mạng ; 2 sắc phong thời Tự Đức; 1 sắc phong thời Thành Thái; 1 sắc phong thời Duy Tân; 1 sắc phong thời Khải Định. Các sắc phong này cung cấp nhiều thông tin quý giá về phẩm cấp của Bà được phong tặng qua thời gian, gắn liền với các triều đại nhà Nguyễn.

Về Lễ hội Bà Thu Bồn ở xã Duy Tân; trước đây, theo thông lệ thường niên thì cộng đồng nhân dân dâng cúng Bà vào hai dịp lễ trong năm vào ngày 12 tháng 2 và ngày mồng 5 tháng 5 Âm lịch, với những phẩm vật quen thuộc như heo, bò, trâu và nghi lễ hát bội... Tuy nhiên, từ những năm kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, do chịu tác động của nhiều điều kiện kinh tế - xã hội mà đến nay, lệ Bà Thu Bồn chỉ được tổ chức duy nhất hằng năm, trong hai ngày 11 và 12 tháng 2 Âm lịch.

Ngay từ những năm đầu của thế kỷ XX, Lễ Lệ Bà đã được rất nhiều người biết đến. “Hội của những tín hữu” sớm được thành lập, gồm những người có học, các vị bô lão, những người giàu có và khá giả, các vị hương lão trong làng… để lo những công việc như: trùng tu ngôi miếu, thay lại mái ngói và sửa sang lại bờ tường, làm một cái ngai mạ vàng, một bàn thờ gọi là Long Đình, bộ lễ bộ, nơi để lễ vật dâng cúng, sắc phong của triều đình, 4 (bốn) con ngựa nhỏ bằng đất và cuối cùng, ở những cột, là những chiếc nón có dạng như những chiếc nón của phụ nữ Trung Hoa thường sử dụng…

Hàng mã được dâng cúng bởi những người tham dự, những sắc bằng được trao tặng bởi nhà vua và được giao phó bảo quản tại nhà một vị hương hào, là Thủ sắc. Sự hiện diện của nghé chông là rất đặc biệt. Ngoài ra; trong những lễ vật dâng cúng, trâu từng xuất hiện khá phổ biến, với số lượng lớn, lên đến 3 con trâu được dâng cúng bởi những gia đình khác nhau, cụ thể là của đại diện từ ba nhóm cộng đồng dân cư trong làng:

Họ Cả: Bao gồm những gia đình giàu có, có học thức trong làng.

Họ Đông Canh: của đồng đào bà con trong làng.

Họ Tư Chánh: của đại diện các cá nhân khác của những làng phụ cận.

Bên cạnh đó, là mỗi dòng họ đều có mâm phẩm vật dâng cúng lên Bà, được thực hiện bởi vị tộc trưởng làm đại diện.

Trong lịch lễ nghi cúng tế cũng như lễ hội của người dân nơi đây, Lệ Bà Thu Bồn trở thành lễ nghi thiêng liêng, lễ hội trọng đại, quy mô nhất trong năm. Các lễ nghi cúng tế ở đình, miếu, nhà thờ họ v.v... dù trang nghiêm nhưng vẫn chỉ với quy mô nhỏ, giản đơn, hạn hẹp; trong khi Lệ Bà Thu Bồn lại trở thành lễ nghi, ngày hội lớn của cả một vùng, được đông đảo bà con khắp nơi nô nức hành hương về dự lễ.

Việc chuẩn bị cho đại lễ Lệ Bà Thu Bồn được toàn thể dân làng và các cấp chính quyền địa phương đặc biệt quan tâm lo lắng, chuẩn bị từ rất sớm. Của ít lòng nhiều, người dân đồng tình đóng góp công sức, của cải vật chất, dâng lễ vật trong Lệ Bà. Bà con tiến hành nhiều phiên họp để thảo luận, bàn bạc, phân công trách nhiệm, những công việc cụ thể, từ chuyện vệ sinh môi trường, dọn dẹp cảnh quan đường sá, trong khuôn viên Lăng Bà, trên bến dưới thuyền... cho đến lễ vật cúng tế, lễ nghi thờ tự. Tập trung giải quyết các vấn đề trọng tâm của lễ hội như cách thức tổ chức, phương thức huy động kinh phí, bầu lên các ban chuyên môn một cách cụ thể, đặc biệt là bầu lên các vị Chánh tế, bồi tế, lễ sinh...

Trong quan niệm dân gian phổ biến hiện nay, Chánh tế là nhân vật rất quan trọng, có ảnh hưởng quyết định đến sự thành bại của lễ hội bởi đó là người trung gian, đại diện cho cả cộng đồng dâng cúng lên Bà và ngược lại, đón nhận mọi ân điển được ban phát từ Bà về với bà con dân làng. Cũng chính vì vậy, không rõ tự bao giờ, lệ làng quy định và mọi người phải tuân thủ nghiêm ngặt, rằng Chánh tế phải là người cao niên, ít nhất cũng từ 70 tuổi trở lên, minh mẫn và tráng kiện, gia đình đoàn viên, con cháu sum vầy và đặc biệt, phải có uy tín trước toàn thể dân làng. Muốn vậy, vị ứng cử viên cho ngôi vị Chánh tế phải là người rất am hiểu phong tục tập quán cũng như kinh nghiệm sản xuất, được bà con dân làng tín nhiệm, nể phục. Ngoài ra, còn phải kể đến một số quy định phụ thuộc khác mà mọi người phải nhất nhất tuân thủ, như không đang trong thời gian có tang tế, đây cũng là một trong những điều cấm kỵ đối với ngôi vị thiêng liêng, cao quý này.

Có lẽ từ sự hội tụ của nhiều yếu tố, điều kiện khắt khe như vậy nên chức vị Chánh tế đã trở thành niềm ước ao mong mỏi, tự hào của các vị cao niên và cả các gia tộc trong làng Thu Bồn. Và, đến lượt các vị cao niên được trang trọng đón nhận vinh dự này, lại càng phải tận tâm tận lực lo lắng chu toàn, cả đối với chuyện lễ nghi thiêng liêng cao cả trước Bà cũng như nghĩa vụ sâu nặng trước toàn thề bà con dân làng.

Ngoài Chánh tế lừ người đứng đầu, dân làng còn bầu nên Ban nghi lễ với số lượng lên đến 14 vị bô lão, mà về cơ bản, đều là những vị cao niên, đạo cao đức trọng, hầu hết phát xuất từ hàng gia giáo, khoa mục hay chức sắc của làng xã truyền thống. Ban nghi lễ có trách nhiệm phân công, điều phối và đảm trách toàn bộ các hoạt động lễ nghi trong Lệ Bà. Công việc chuẩn bị được tiến hành kỹ lưỡng từ sớm, suốt mọi thời gian trong năm. Về cơ bản, có thể thấy được thành phần cốt yếu của Ban Nghi lễ như sau:

- Ba vị có liên quan trực tiếp đến trọng trách lễ thần, gồm vị Chánh tế (ngôn ngữ dân gian trong vùng còn gọi là Mạnh bái) và hai vị Phó tế (Bồi bái), đứng bên cạnh, phía dưới để hỗ trợ, phò tá Chánh bái trong lúc hành lễ.

- Hai vị Xướng lễ, một vị gọi là Đông xướng và một vị là Tây xướng, đứng đối diện nhau, dọc theo hai bên hương án để đảm đương công việc xướng lễ trong suốt quá trình tế tự.

- 10 vị Chấp sự được bố trí thành hai hàng đối diện nay, mỗi bên 05 (năm) người, đảm đương việc dâng hương đăng, rượu trà, chuyển chúc và đọc chúc văn.

- Ngoài ra, phò tá cho Ban Nghi lễ, còn phải kể đến các vị lễ sinh (học trò lễ) đứng hầu và giải quyết những công việc cụ thể khác.

- Bên cạnh đó, trong không gian lễ nghi ở Lăng Bà, cần phải nhấn mạnh đến sự hiện diện và vai trò không thể thiếu của phường bát âm, được thiết trí ngồi thành hàng ở sát hiên, phía bên ngoài chánh điện trong khu vực nội thất lăng Bà.

- Phía bên ngoài khu vực tẩm điện, luôn có sự hiện diện thường trực của đội ngũ đông đảo dân đinh trong làng, đảm đương những công việc nặng nhọc phục vụ cho nghi lề cúng tế Bà, như mang vác, sắp đặt và bưng bê những vật dụng, thiết trí bàn ghế, lễ vật, khiêng kiệu và tiếp khách, tiếp nhận phẩm vật mà bà con cũng như du khách thập phương đến hành hương, dâng cúng lên Bà.

Các lão bà, các chị trong suốt từ những ngày đầu tháng 2 âm lịch, đã thường xuyên đến đây lo lắng quét tước, dọn dẹp khu vực lăng Bà sạch sẽ, ngăn nắp. Tương tự như trên khu vực Lăng Bà Phường Rạnh, bộ trang phục của Bà nơi đây cũng bao gồm đầy đủ y phục, hia, mão, nón, lọng, lọn tóc..., bên cạnh đó là sự hiện diện đầy đủ của bộ lỗ bộ, khí tự quy mô, trang nghiêm... nhưng qua bao phen binh lửa và thời gian, đến nay đã bị thất tán và hư hao nhiều mà trong điều kiện kinh tế hiện tại, bà con dân làng Thu Bồn chưa thể phục hồi lại được. Điều đó trở thành nỗi tâm niệm lớn lao của đông đảo bà con dân làng Thu Bồn hiện nay.

Trãi qua thời gian dài, với bao biến thiên, thăng trầm của lịch sử, đến nay, quy trình lề nghi và phẩm vật cúng tế trong Lệ Bà Thu Bồn đã có nhiều biến đổi giản lược đáng kể.

Tuy nhiên, xưa nay, dù ở hoàn cảnh nghiệt ngã, khó khăn nào đi nữa thì một phẩm vật cúng tế tối thượng luôn được cộng đồng cư dân đặc biệt coi trọng, thậm chí phải chọn lựa, kiếm tìm suốt hàng tháng trời, đó chính là Nghé chông.

Lễ vật dâng cúng phổ biến trong đời sống dân gian người Việt là hương đăng, hoa quả, trầm trà, cau trầu rượu cùng những vật phẩm tinh sạch, tôn quý trong đời sống thường nhật để dâng cúng lên các vị thần linh phối hưởng, ở mức độ đặc biệt quan trọng, nhằm nhấn mạnh đến tính thiêng liêng, quý giá, bắt buộc phải thiết trí nghi lễ tam sanh trâu, bò, dê hoặc trâu, heo, dê ở quy mô lớn; hay có khi chỉ là bò, heo, gà ở quy mô nhỏ, mà thậm chí có khi, cũng chỉ là tợ thịt của con sinh mang đầy tính biểu tượng, cùng với thủ, vĩ, nội tạng (đầu, đuôi, nội tạng) cho đầy đủ phẩm vật, lễ nghi.

Do vậy, phẩm vật cúng tế đặc biệt luôn luôn phải có ở lệ Bà Thu Bồn đó chính là nghé chông và đương nhiên bên cạnh đó còn có heo, gà, vịt được chế biến thành món ngon dâng cúng lên Bà.

Nghé chông là vật hiến sinh đặc biệt quan trọng, không thể thiếu, là yếu tố tiếp biến văn hóa giữa hai cộng đồng Việt và phi Việt trên vùng đất Quảng Nam nói riêng và miền Trung nói chung.

Nghé chông trong vai trò là vật hiến sinh thiêng liêng cao cả, quyết định đến sự thành công viên mãn của lễ nghi - lễ hội, trực tiếp tác động đến khả năng hiện thực hóa khát vọng cầu mùa, tín ngưỡng phồn thực của cộng đồng cư dân khi khấn nguyện, dâng cúng lên Bà.

Dân làng quan niệm rằng, xưa nay, chưa nghe nói dùng bò làm phẩm vật dâng cúng trong Lệ Bà, mà phải là nghé chông. Đó là một con trâu đực còn nhỏ, nên gọi là nghé. Nghé đực mới hội tụ đầy đủ sinh lực mạnh mẽ, tinh khiết trong sứ mạng, trọng trách cao cả của nghi lễ hiến sinh, với khát vọng phồn thực cầu mùa. Sau khi tế sinh, con sinh không luộc chín mà phải để sống nguyên con rồi được chông (chưng) theo tư thế quỳ chân trên một bàn chông được làm bằng tre, nên gọi là nghé chông.

Cho nên, từ rất lâu đời, người dân nơi đây đã sớm điển chế hoá tiêu chí chọn lựa nghé chông. Trước hết, đó phải là con nghé ở độ tuối trưởng thành, chuẩn bị trở thành trâu cày thực sự. Nghé phải đẹp, khoẻ mạnh, sừng đều và có độ cong hài hoà, màu sắc đen nháy, không bị sứt mẻ hay dị tật, có bộ lông đen mượt. Nghé chông phải có đuôi dài, thẳng, chòm lông dài và đen, mượt; tứ chi và nhất là các bộ phận sinh thực khí khoẻ mạnh, không tì vết hay dị tật. Và điều tối kỵ là có những xoáy trên trán, khoé tai, trên lưng, phía sau mông...

Trình tự nghi lễ cúng tế của Lễ hội Bà Thu Bồn:

Tổ chức từ ngày 11 đến ngày 12 tháng 2 Âm lịch hằng năm. Bao gồm:

Lễ rước sắc (Chiều ngày 11.2 Âm lịch)

Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, do nhiều khó khăn khách quan, đặc biệt là sắc phong truyền thống của làng từ thời phong kiến, được triều đình nhà Nguyễn ban tặng cho Bà không còn nữa nên giản lược, kiệm ước trong việc tổ chức Lệ Bà, nghi lễ rước sắc truyền thống về lăng Bà cũng không còn nữa.

Tuy nhiên, trong ký ức dân gian thì đây là một lễ nghi đặc biệt, mang đậm dấu ấn thiêng liêng và ảnh hưởng mạnh mẽ về sự hiện diện của Bà trong đời sống cộng đồng cư dân Thu Bồn từ xưa đến nay, do đó có nhiều thuận lợi trong việc phỏng vấn hồi cố, chuẩn bị tư liệu cho việc phục hồi sắc phong nói riêng và cả quy trình nghi lề rước sắc truyền thống nói chung.

Sắc phong: Hồng nhân Phổ tế Linh ứng Thượng đẳng thần, ngày 17 tháng 9 năm Minh Mệnh thứ 7 (1826)

Nguyên văn:

勅天依阿那演妃主玉尊神護國庇民顕有功德經有社民奉事奉我世祖高皇帝統一海宇慶被神人肆今光紹鴻圖緬念神庥宜隆顕號可加贈洪仁普濟靈應上等神仍準許延福縣花鋪社依舊奉事神其相佑保我黎民欽哉。

明命七年九月十七日

Phiên âm:

Sắc Thiên Y A Na Diễn Phi Chúa ngọc tôn thần. Hộ quốc tí dân, hiện hữu công đức, kinh hữu xã dân phụng sự. Phụng ngã Thế tổ Cao hoàng đế thống nhất hải vũ, khánh bị thần nhân. Tứ kim quang thiệu hồng đồ, miến niệm thần hưu, nghi long hiển hiệu, khả gia tặng Hồng nhân Phổ tế Linh ứng Thượng đẳng thần. Nhưng chuẩn hứa Diên Phúc huyện Hoa Bổ xã y cựu phụng sự. Thần kỳ tương hựu bảo ngã lên dân. Khâm tai.

Minh Mệnh thất niên cửu nguyệt thập thất nhật.

Tạm dịch:

Sắc cho Thần Thiên Y A Na Diễn phi Chúa ngọc Tôn thần. Có công giúp nước che chở cho dân, hiện rõ công đức, từng được nhân dân phụng thờ. [Thần] giúp cho Thái tổ Cao Hoàng đế ta thống nhất bờ cõi lan truyền tốt đẹp đến khắp thần nhân. Nên nay vẻ vang nối tiếp cơ đồ to lớn của tổ tiên, xa nhớ đến ơn che chở xứng đáng với danh hiệu to lớn hiển hách của thần, đáng được gia tặng Hồng nhân Phổ tế Linh ứng Thượng đẳng thần. Chuẩn cho xã Hoa Bổ huyện Diên Phúc thờ phụng như xưa. Thần hãy bảo hộ dân ta. Hãy nhận.

Ngày 17 tháng 9 năm Minh Mệnh thứ 7 (1826)

Sắc phong: Thục Hạnh Mỹ Đức Dực Bảo Trung Hưng Bô Bô Phu Nhân Thượng Đẳng Thần, năm Khải Định thứ 9 (1924):

Nguyên văn:

敕 廣 南 省 濰 川 縣 秋 坌 社 從 前 仝 奉 事 高 閣 廣 度 上 等 神、白 馬 尊 神、城 隍 尊 神 護 國 庇 民 稔 著 靈 應 節 蒙 頒 給 敕 封 準 許 奉 事 肆 今 正 值 朕 四 旬 大 慶 節 經 頒 寶 詔 覃 恩 禮 隆 登 秩 特 準 奉 事 用 誌 國 慶 而 申 祀 典 欽 哉

啟 定 玖 年 柒 月 貳 拾 五 日

Phiên âm:

Sắc Quảng Nam tỉnh, Duy Xuyên huyện, Thu Bồn xã tòng tiền phụng sự nguyên tặng Thục Hạnh Mỹ Đức Dực Bảo Trung Hưng Bô Bô Phu Nhân Thượng Đẳng Thần. Hộ quốc, tí dân nẫm trứ linh ứng, tiết mông ban cấp sắc phong chuẩn hứa phụng sự. Tứ kim chánh trị Trẫm tứ tuần đại khánh tiết kinh ban bảo chiếu đàm ân lễ long đăng trật, trứ gia tặng Mặc Phù Hiển Tướng Thượng Đẳng Thần, đặc chuẩn phụng sự nhi thân tự điển. Khâm tai.

Khải Định cửu niên thất nguyệt nhị thập ngũ nhật

Dịch nghĩa

Sắc ban cho xã Thu Bồn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam theo trước đây thờ phụng Thục Hạnh Mỹ Đức Dực Bảo Trung Hưng Bô Bô Phu Nhân Thượng Đẳng Thần đã giúp nước đỡ dân rất linh ứng được ban sắc cho phụng thờ. Nay nhân mừng thọ trẫm 40 tuổi, kính vâng khải chiếu ghi ơn, làm tốt đẹp nghi lễ đăng và phẩm trật, đặc biệt cho thờ phụng như cũ theo nghi lễ của nước nhà. Kính tuân theo.

Ngày 25 tháng 7, năm thứ 9 niên hiệu Khải Định (1924)

Hiện nay, sắc phong được bảo quản trang trọng, kỹ lưỡng trong hòm gỗ, được đặt trên một trang thờ chắc chắn tại không gian thiêng liêng, phía trên bàn thờ trong gia đình ông Thủ sắc.

Người thủ sắc phải là người được dân làng đồng tình tín nhiệm chọn cử bởi tài năng, đức độ và một phần quan trọng, cũng là nhờ vào gia cảnh khá hoàn bị của ông. Trên một phương diện nào đó, cũng có thể coi ngài Thủ sắc là bậc khoa bảng trưởng lão của làng, văn hay chữ tốt, thâm Nho, và chỉ đứng sau ngài Thủ bộ/Hương bộ - người chu toàn mọi việc văn bản, giấy tờ của làng xã truyền thống. Là người do hội đồng hương chức trong làng chọn cử, theo nhiệm kỳ 3 năm, qua nhiều tiêu chí khắt khe như phần trên đã trình bày và quan trọng hơn, người đảm đương được trọng trách này còn phải là người đã từng trải qua một nhiệm kỳ làm hương chức trong bộ máy xã thôn truyền thống. Hơn nữa, tư gia của vị Thủ sắc phải là nhà ngói khang trang, là nơi cất giữ sắc phong của Bà được trang nghiêm, long trọng và đặc biệt, có điều kiện để tránh ẩm mốc, mưa gió bão bùng, nhất là nguy cơ hỏa hoạn dễ thường có thể xảy ra trong xã hội nông thôn miền Trung truyền thống.

Rước sắc là nghi lễ truyền thống được toàn thể dân làng đặc biệt chú trọng, nhằm cung thỉnh sắc phong của Bà từ gia đình ông Thủ sẳc về Lăng Bà, ngay từ giờ Mùi (khoảng từ 13h) trong buổi chiều ngày 11.2 âm lịch, trước lễ cáo yết Tiên thường.

Sau nghi lễ cáo yết đơn sơ, dân làng dâng hương hoa, trầm trà, quả phâm lên Bà để xin cung thỉnh sắc phong của Bà về Lăng, đoàn rước sắc khởi hành từ Lăng Bà thẳng đến tư gia ngài Thủ sắc, rộn ràng trong tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng kèn của phường bát âm và rực rỡ màu sắc của người người trong đoàn rước sắc, nhóm phu khiêng kiệu, có cờ xí rợp trời tiền hô hậu ủng.

Đoàn rước sắc được tái lập theo nghi lễ truyền thống bao gồm:

- Đoàn binh tướng được trang phục theo lối xưa mang dáng dấp của binh lính thời phong kiến Nguyễn, với áo đỏ, lai áo có nẹp màu trắng, xanh hoặc vàng. Ở cổ áo có họa tiết trang trí vân lượn màu trắng, áo dài ngang đầu gối, lưng có thắt đai; quần trắng, quấn xà cạp; có thể cách tân đi giày bata màu xanh hoặc đen; đầu đội nón dấu sơn đỏ...

Đoàn binh tướng trong đoàn rước kiệu Bà có thể lên đến 18 người, trong đó được cơ cấu cụ thể như sau:

1 người cầm cờ đại

5 người cầm cờ Ngũ hành

2 người gánh chiêng

02 người gánh trống

8 người khiêng kiệu

Xét tổng thể, đoàn binh tướng được phiên chế thành 3 bộ phận:

- Bộ phận dẫn đường với đầy đủ nghi trượng, pháp khí, cờ xí đi tiên phong.

- Bộ phận binh phu khiêng kiệu rước Bà.

- Bộ phận hộ tống ngay phía sau kiệu rước Bà.

Kiệu rước, từ xưa nay, được dân làng trang trọng tôn xưng là Long Đình. Long Đình làm bàng gỗ quý, sơn son thép vàng, trang hoàng lộng lẫy bởi những dải lụa vàng mang đậm tính chất trang trọng, cổ điển của điển chế thời phong kiến. Bên trong Long Đình được thiết trí bát nhang, trầm trà, hương hoa quả phâm đầy đủ. Kiệu được điều hành bởi 8 phu đinh khiêng kiệu. Tháp tùng hai bên Long Đình là hai thiếu nữ cầm lọng vàng hộ tống Bà trên suốt hành trình.

Phía sau kiệu rước và đoàn binh tướng là các vị chức sắc, hương thân phụ lão, các cơ quan ban ngành đoàn thể và đông đảo bà con dân làng, du khách hành hương.

Đoàn rước đi dọc qua các con đường làng ngõ xóm với cờ xí rợp trời, âm thanh của dòng người, lễ nhạc rộn rã mà thiêng liêng, thẳng tiến đến nhà ông Thủ sắc. Đến nơi, đoàn người lại giừ đúng trật tự ban đầu rồi từ từ dừng lại để chuẩn bị vào trong tư gia ông Thủ sắc, tiến hành nghi lễ rước sắc Bà về Lăng.

Lúc này, vị Chánh tế dẫn đầu đoàn rước dâng hương hoa, quả phẩm lên trang thờ. Nhạc lễ chuông trống cử ba hồi dài, sau đó, vị Thủ sắc kính cận leo lên thang gỗ, hai tay bưng tráp gỗ bảo quản sắc phong Bà, bên trên được phủ tấm lụa điều, từ từ bước xuống, nghiêng mình đặt tráp sắc phong lên bên trong Long Đình. Chiêng trống nổi lên, đoàn rước sắc phong Bà lại tiếp tục hành trình, quay trở lại lăng. Đường thôn ngõ xóm càng lúc càng chật cứng người, bà con dân làng và du khách thập phương hành hương về dự lễ, chiêm ngưỡng đoàn rước sắc, đặc biệt là Long Đình cung thỉnh sắc phong Bà được trang hoàng lộng lẫy, linh thiêng.

Về đến lăng, sau ba hồi trống lệnh, hai vị điển lễ dâng hương hoa cáo Bà. Sau đó, vị Thủ sắc kính cẩn nâng hai tay lên ngang ngực, cung thỉnh sắc phong vào chánh điện, sắc phong được cung thỉnh về Lăng Bà chính thức hiện diện một cách đầy đủ, trang trọng và linh thiêng nhất trên bài vị, ở ngay bàn thờ Bà, để chứng giám và phù hộ cho lòng thành kính của con dân trong làng theo khát vọng dân khang vật phú, quốc thái dân an.

Kể từ sau nghi lễ rước sắc, linh vị Bà hiện diện qua sắc phong mới chính thức ngự trên bàn thờ và toàn bộ sinh hoạt lễ nghi chốn tâm điện cũng như các hoạt động hội hè vui chơi giải trí trong khuôn viên lăng Bà, trên bến dưới thuyền mới được phép diễn ra.

Sau khi sắc phong Bà được cung thỉnh về Lăng thì theo quan niệm dân gian, đó chính là thời điểm Bà hiện diện một cách chính thức, đầy đủ nhất. Cho đến trong khoảng giờ Dậu (tương đương khoảng từ 17h - 19h), cộng đồng dân làng mới tập trung lễ vật, hương hoa quả phẩm làm lề cáo yết tiên thường với ý nghĩa chính thức cung thỉnh, mời Bà về ngự tọa trên bàn thờ trong tẩm điện, chứng giám cho tấm lòng thành của bà con dân làng và phối hưởng những lễ vật cao quý mà họ thành tâm dâng cúng.

Phía trước Lăng Bà, ở về phía bên ngoài, sát cạnh bình phong long mã, dân làng cũng thiết trí bàn linh với đầy đủ hương hoa quả phẩm, áo, cháo, gạo, muối để dâng cúng cho các âm linh vốn thiếu thốn đói rách, không nơi nương tựa. Đáng lưu ý là nghi lễ này, cũng với đầy đủ phẩm vật tương tự, còn được lặp lại một lần nữa tại đây trong nghi lễ.

Ở đây, Ban tế lễ bố trí 3 bàn để bàn soạn lễ vật dâng cúng âm linh. Bàn chính giữa được đặt ở vị trí cao hơn hẳn và nằm sát về phía Lăng Bà hơn, hai bàn tả hữu lùi về phía sau, thấp hơn một bậc nhằm thiết trí phẩm vật, dâng cúng lên các vị âm binh bộ hạ, cô hồn các đẳng, ở nghi lễ này, hoàn toàn không có sự tham gia của các điển lễ (học trò lễ) mà chỉ có một chánh bái, một khởi xướng và hai bồi bái.

Lúc này thì bên ngoài không gian nhà tế sinh, không khí lại rất ồn ào, náo nhiệt. Mọi người từ khắp nơi đồ về tụ hội ở khu vực Lăng Bà để dâng nén hương trong nghi lễ cáo yết Tiên thường và đặc biệt, được sống trong không khí hội hè nhộn nhịp trong sân bãi quanh khu vực Lăng, trong quang cảnh chuẩn bị rộn ràng trên bến dưới thuyền, bởi phải đợi đến lúc sau khi nghi lễ cáo yết tiên thường kết thúc thì chính thức trong khuôn viên Lăng Bà, hay trên bến sông Thu Bồn, các hoạt động vui chơi giải trí mới được bắt đầu.

Nghi lễ hát tuồng dâng cúng lên Bà và dắt nghé chông vào lăng cáo Bà trước giờ tế sinh

Hát tuồng cũng là một phẩm vật cao quý được dâng cúng lên Bà ngay sau nghi lễ cáo yết Tiên thường, mà dân gian kính cẩn tôn xưng là Tuồng Bà.

Ngay sau khi nghi lễ cáo yết Tiên thường kết thúc, lúc mà bên ngoài, trời đã bắt đầu nhá nhem tối, thì đoàn tuồng bắt đầu vào Lăng đế hát tuồng dâng cúng lên Bà.

Theo ký ức của các người cao tuổi trong làng Thu Bồn thì hoạt động diễn tuồng ở ngay chánh điện của Lăng Bà để rồi sau đó, tuồng mới được chính thức công diễn ở sân bãi bên ngoài, phục vụ đông đảo bà con dân làng và du khách hành hương.

Ở đây, kép chính của đoàn tuồng phải biểu diễn một đoạn tuồng đặc sắc nhất, kinh điển nhất trong các vở tuồng sắp biểu diễn để Bà ngự lâm. Hành động này kết thúc, cũng đồng nghĩa với việc xin phép Bà cho đoàn tuồng bắt đầu biểu diễn ở bên ngoài. Không chỉ có vậy, sau khi hát tuồng dâng cúng lên Bà, người ta còn cung thỉnh hương án có đầy đủ bát hương hiện hữu bên trong, như là biểu tượng cho sự hiện diện của Bà ra tận ngoài sân bãi để ngự xem đoàn tuồng biểu diễn cho bà con dân làng thưởng thức. Đoàn tuồng tham gia biểu diễn ở đây có thể là đội tuồng quần chúng của bà con dân làng, hay của các làng xã lân cận trong vùng; có khi còn có sự tham gia của các đoàn tuồng lớn, chuyên nghiệp từ tỉnh, huyện đến tham gia.

Sau khi nghi lễ Tuồng Bà kết thúc, thì toàn bộ các hoạt động vui chơi giải trí, hội hè, đặc biệt là hát tuồng ở khu vực sân bãi bên ngoài Lăng Bà mới được phép chính thức bắt đầu.

Không gian hội hè vui chơi xung quanh Lăng Bà được mở rộng, kéo dài cho tới gần nửa đêm. Đến đây, từ nhà tế sinh, người dân làng Thu Bồn phải thực hiện một nghi lề bắt buộc là dắt nghé chông vào lăng để trình vái Bà, trước khi bắt đầu hiến sinh.

Con sinh (con nghé/trâu tơ) từ mấy ngày trước đã được chăm sóc cẩn thận, sạch sẽ trong khu vườn của nhà tế sinh. Từ nhà tế sinh, người ta dắt nghé qua cổng chính của lăng Bà, vào sân bãi phía trước rồi vào chánh điện đê trình diện Bà, chứng minh sự toàn vẹn, tuyệt mỹ của con sanh quý giá mà dân làng đã dày công chọn lựa suốt một thời gian dài từ trước.

Nhóm phụ trách việc tế sinh dắt nghé vào trong, bên trong thì các vị bô lão trong ban nghi lễ của làng đã chuẩn bị hương đăng, trầm trà, cau rượu, hoa quả để trình Bà. Nghi lễ đơn giản, nhanh chóng, chỉ qua rượu, tuần trà, rồi nhanh chóng kết thúc. Người ta dắt nghé chông theo đường cũ, trở về nhà tế sinh để từ đó, có thể bắt đầu công việc tế sinh.

Lễ chánh tế: ngày 12 tháng 2 Âm lịch hằng năm

Đại lễ chánh tế theo nghi lễ truyền thống của làng Thu Bồn được diễn ra vào giừa giờ Tý (0h, tức 12h đêm theo cách tính dân gian), tức là thời khắc chuyển giao giừa ngày 11 và ngày 12 tháng 2 âm lịch. Chủ tế, đông xướng, tây xướng và các điển lễ thực hành nghi lễ theo đúng thể thức khoa nghi truyền thống, trong không khí thiêng liêng, trang trọng, với đủ phẩm vật dâng cúng, trầm trà hương hoa, lễ nhạc...

Lễ vật chính yếu trong đại lễ chánh tế là bàn chông nghé chông, bàn lợn quay và những mâm xôi, bên cạnh đó là các gà, vịt, quả phẩm, bánh trái. Ngoài lễ vật chủ đạo là nghé chông, phải do toàn thể dân làng lòng thành đóng góp, cùng nhau dâng cúng lên Bà, còn lại những mâm lễ vật quan trọng khác, đều phát xuất từ lòng thành dâng cúng của các gia tộc, các con dân trong làng, các tổ chức, cá nhân hành hương đến với Lệ Bà từ khắp nơi trong vùng.

Điểm đặc biệt ở nghé chông là người ta phải để sống nguyên cả con sinh lúc cúng tế, chi có bộ nội tạng và huyết là được luộc chín. Tất cả được đặt trong một rổ lớn, đặt ngay bên cạnh, nhích về phía trước, bên phải nghé chông.

Nghé chông sau khi tế sinh, người ta làm sạch và để nguyên con bằng thịt sống, dùng huyết tươi bôi lên toàn bộ bề mặt da của con sinh. Tất cả được đặt lên trên một bàn tre được làm chắc chắn, vừa kích cờ của con sinh, theo thế quỳ hai chân trước lên phía trước, còn hai chân sau đề thòng xuống phía dưới, đằng sau bàn chông, nên gọi là nghé chông. Phía bên trái và bên phải con sinh, là nơi thiết trí những con sinh khác trong điều kiện có thể như heo quay, từ sự đóng góp của bà con dân làng hay các dòng họ, cá nhân trong ngoài làng phụng cúng lên Bà.

Nét đáng chú ý ở con sinh nghé chông là trong quá trình tế sinh, người ta phải lấy toàn bộ dải thịt lườn (nằm ở giữa bụng, từ ngực xuống tới hạ bộ), bao gồm cả phần đầu của sinh thực khí - nhưng vẫn đề lại nguyên hạ bộ (dái trâu) ở vị trí cũ. Toàn bộ dải thịt đặc biệt quan trọng này được trải dài trên lưng con sinh theo đúng thứ tự, phơi cả sinh thực khí lên bên trên.

Một chi tiết rất độc đáo trong Lễ hội Bà Thu Bồn mà không có ở các lễ hội khu vực đồng bằng duyên hải miền Trung là trong quá trình tế sinh, xuất hiện một vị trí rất đặc biệt, nằm giữa u cổ và đùi trước, về phía bên trái của con sinh - là nơi mà các vị bô lão cho biết, dễ dàng đi trực tiếp vào tim của con sinh. Đó là một vết cắt, khoét sâu, hình tròn, có đường kính khoảng 7 - 9cm, ở giữa chính tâm có gắn một cây tre nhỏ được vót nhọn tựa như ngọn giáo. Qua ý kiến từ các cuộc phỏng vấn nhanh với các cụ Thái Văn Lịch, cụ Trịnh Mười, đúc kết ra rằng đã có sự thống nhất trong việc lý giải vấn đề này khi cho rằng từ xa xưa, tổ tiên của họ, lớp lớp tiền nhân làng Thu Bồn không giết trâu như hiện nay mà phải tiến hành nghi lễ đâm trâu. “Vị trí vàng” đó chính là nơi lý tưởng cho ngọn giáo chính xác của một tay tráng đinh thiện xạ có thế nhanh chóng kết thúc nghi lễ đâm trâu khi con trâu gục ngã trong tiếng hò reo vang dội của cả cộng đồng, trong không khí lễ nghi huyền hoặc, trang trọng. Các cụ còn cho biết thêm rằng trong ký ức, trước đây, trong Lệ Bà Thu Bồn, vẫn có sự hiện diện của cả một xuồng (tô lớn) huyết sống lớn, đặt sát cạnh con sinh, về phía bên phải. Xem xét tính chất và ý nghĩa của máu trong nghi lễ hiến sinh, với khát vọng phồn thực (trừ tà và cầu mùa), có thể nhận thấy đã có sự biến chuyến của hình thức biểu hiện của máu ở đây, từ huyết tươi (máu sống) cho đến một phần còn lại đã được luộc chín. Nếu như trong đời sống người Việt vùng Bình Trị Thiên hiện nay, hầu như không thấy xuất hiện máu tươi qua nghi lễ, chỉ duy nhất trong nghi lề tạ thổ thần ở những hoạt động lễ nghi có liên quan đến chốn lăng mộ... thì trong đời sống nghi lễ của cư dân làng Thu Bồn, huyết tươi vẫn còn hiện diện một cách chính thức, thông qua phương thức bôi máu sông lên toàn bộ bề mặt của con sinh ngay sau khi tế sinh, trước khi dâng cúng lên Bà.

Trong đời sống lễ nghi của người Việt, thủ (đầu), vĩ (đuôi), nọng (thớ thịt ngon nằm ở cổ của con sinh là heo) là những “vị trí vàng” mang đậm giá trị tâm linh và ý nghĩa biểu tượng, phản ánh sâu sắc một trật tự lề nghi đầy tính điển chế theo chuẩn mực của cả cộng đồng. Sau nghi lễ, những phần thịt liên quan đến những “vị trí vàng” đó luôn được cả cộng đồng kính cẩn “kỉnh” (dâng tặng, ban tặng) cho những người có phẩm hàm, vai vế danh giá trong cộng đồng, như ngài thủ chỉ, hay vị chánh bái...

Khi nghiên cứu khảo sát Lễ hội Bà Thu Bồn, các Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian nhận thấy một nguyên tắc tương tự ở Lệ Bà Thu Bồn là ở “vị trí vàng” mang dáng dấp một thời đâm trâu, khi nghi lễ chánh tế gần đi vào hồi kết thúc, một vị điển lễ (lễ sinh) kính cẩn bước tới sát bên con sinh, dùng dao nhỏ tách tợ thịt đặc biệt đó cùng ngọn giáo nhỏ bên trên, để vào một cái dĩa nhỏ trên bàn thờ. Phẩm vật quý giá đó chính là lễ vật mà làng “kỉnh” vị chánh bái trong sáng sớm ngày mai, bắt đầu chánh hội Lệ Bà Thu Bồn.

Sau hai tuần hương, ba tuần rượu, ba tuần trà, không gian lễ hội như lắng xuống, nghi lễ chánh tế kết thúc.

Trong nghi lễ truyền thống Lệ Bà Thu Bồn, qua kết quả khảo sát từ các bậc cao niên, chúng tôi đều ghi nhận được một số thông tin, cho phép đưa ra thành những nguyên tắc có tính thống nhất, bắc buộc cho việc tổ chức Lệ Bà Thu Bồn. Đó là trước đây, phải kết thúc nghi lễ chánh tế vào lúc rạng sáng ngày 12.2 âm lịch, mọi hoạt động lễ nghi, hội hè khác bên trong hay bên ngoài khu vực lăng Bà, trên bến dưới thuyền của làng Thu Bồn mới được bắt đầu.

Không chỉ có vậy, mà cao cả hơn, thiêng liêng hơn, phải từ đây, toàn bộ phẩm vật dâng cúng lên Bà, sau khi được Bà ngự hưởng, sẽ ban lại cho toàn thể dân làng và du khách hành hương được hưởng “lộc Bà”, với bao khát vọng cầu may, cầu an, cầu tài lộc, tẩy trừ bao điều xui xẻo, bất an. Có lẽ chính vì vậy mà theo phong tục tập quán truyền thống của làng Thu Bồn, việc phân hiến “lộc Bà” ngày trước theo đúng lễ nghi truyền thống, luôn được đặc biệt chú trọng. Theo đó thì trong Lệ Bà Thu Bồn, thống nhất phương châm càng nhiều người hưởng được lộc Bà càng tốt, mà đi kèm với điều đó là bao ước nguyện thiêng liêng, cao cả về sức khỏe, tài lộc, không chỉ của những trực tiếp tham gia Lệ Bà mà còn cho cả các thành viên trong gia đình không có điều kiện hành hương.

Đây chính là “nguyên tắc vàng” trong Lệ Bà Thu Bồn mà không rõ bắt nguồn từ đâu, trong khoảng hơn chục năm nay, một số “cải biên” mang đậm dấu ấn thời hiện đại trong Lễ hội truyền thống làng Thu Bồn đã phạm phải một cách nghiêm trọng, làm ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý hành hương của bà con trong làng và du khách khắp nơi về đây tụ hội. về vấn đề này, ở phần sau, chúng tôi sê tập trung phân tích, để rồi có sự đề nghị, tư vấn chỉnh sửa hợp lý, hiệu quả, ít ra cũng là từ trong đời sống tâm lý sao cho người dân không cảm thấy bất an.

Không gian hội hè, trò chơi dân gian truyền thống trong Lệ Bà Thu Bồn

Từ sáng sớm ngày Lệ Bà Thu Bồn, 12.2 âm lịch, đường làng ngõ xóm rộn ràng, dân làng cùng khách thập phương lần lượt tụ hội về đây, vào lăng viếng Bà, với mâm lễ vật, lòng thành dâng cúng.

Bên trong Lăng Bà, từ những ngày hôm trước, nội thất đã được thiết trí đầy đủ phẩm vật thiêng liêng, trang trọng, trong không gian khói hương nghi ngút. Đặc biệt là mâm lễ vật của mỗi dòng họ trong Lục tộc tiền hiền của làng.

Chính thức từ rạng sáng ngày 12.2 Âm lịch, sau khi đại lễ chánh tế Lệ Bà Thu Bồn kết thúc thì khắp trong sân ngoài bãi, trên bến dưới thuyền, các hoạt động hội hè, trò chơi dân gian khác mới được bắt đầu, đáng chú ý là lễ hội đua thuyền mừng Lệ Bà trên sông Thu Bồn, hát tuồng, hô hát bài chòi trong khuôn viên Lăng Bà cùng nhiều hoạt động đắc sắc khác v.v...

Có thể nhận thấy sức sống dân gian truyền thống bền chặt, mạnh mẽ của lễ hội đua thuyền trên sông Thu Bồn qua nhiều giai thoại, truyền thuyết và niềm tin tín ngưỡng dân gian truyền thống. Trong Lệ Bà Thu Bồn truyền thống, theo ký ức của các bậc cao niên, không thể không có nghé chông, tuồng Bà ở phẩm vật dâng cúng trong Lăng Bà, thì trên bến dưới thuyền, lại không thể vắng bóng lễ hội đua thuyền, gắn liền môi trường sông nước dọc lưu vực sông Thu Bồn.

Trong dân gian, từng tồn tại giai thoại, truyền thuyết đặc biệt quan trọng có đề cập đến vấn đề này. Theo đó thì trước đây, Bà Thu Bồn đã kết hôn với ngài Cao Các Đại vương ở làng Bình Yên (Trung Yên), không xa làng Thu Bồn về phía thượng nguồn, chính là nơi có Lăng Bà Phường Rạnh. Ở cả hai làng, người ta đều có những thuyền đua nối tiếng. Trong hôn nhân, lễ cưới được công nhận bởi một khoản “Tiền Cheo” rất ý nghĩa và đồng thời, với một phẩm vật rất đặc biệt là một con bò mộng làm sính lễ thông qua nghi lễ cúng tế, ngõ hầu có thể giảm thiều ảnh hưởng xấu xa, nguy hại đến đời sống vật chất và tinh thần của người dân, thậm chí là cả nhân mạng. Trong đám cưới đã trở thành lệ tục tự bao đời, “Tiền Cheo” được hoãn lại bởi một cô gái trẻ tại bến đò Tuần, và rồi một người trai trẻ trong làng đứng ra giới thiệu những thể lệ, nguyên tắc cũng như giải thưởng của cuộc đua. Số tiền này, với con bò mộng, được coi như là tặng phẩm cho làng, điều đó cho thấy thành phần tham dự lễ hội đua thuyền truyền thống Lệ Bà Thu Bồn là rất đông đảo, đặc biệt là có sự tham gia của các đội đua làng Thu Bồn và làng Trung Yên, được đặt trong một không gian lễ nghi thiêng liêng, mang đậm dấu ấn huyền thoại hóa, trở thành nguồn sống cho quá trình thực hiện thông qua lễ hội đua thuyền tự bao đời nay.

- Hát tuồng

Theo ký ức của các bậc cao niên thì ngày trước, hát tuồng thường rất được bà con dân làng Thu Bồn, xã Duy Tân, huyện Duy Xuyên và làng Trung An, xã Quế Trung, huyện Quế Sơn quan tâm tổ chức một cách quy mô, đáp ứng nhu cầu thiết yếu của nhân dân trong vùng, mà có khi, người ta còn tổ chức hát tuồng liên tục, có thể suốt từ ba đêm cho đến bảy đêm, tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội của làng qua các thời kỳ, tùy thuộc vào hảo tâm đóng góp, cúng dường của bà con trong làng, của du khách hành hương.

Lệ Bà Thu Bồn thường niên quy tụ nhiều đội tuồng, nghệ sĩ tuồng nồi danh đất Quảng, nên lại càng có sức hấp dẫn đối với đông đảo bà con trong vùng tham gia dự hội, thưởng thức di sản nghệ thuật diễn xướng đặc trưng của vùng văn hóa dân gian xứ Quảng.

- Hô hát bài chòi

Tương tự như hát tuồng, hô hát bài chòi cũng là một hình thức nghệ thuật diễn xướng dân gian đặc sắc, thường được coi là di sản văn hóa đặc trưng, như thấm sâu vào máu thịt của con người xứ Quảng, đến nỗi dân gian vẫn thường lưu truyền phổ biến câu ca:

Rủ nhau đi đánh bài chòi

Đe cho con khóc đến lòi ruột ra

Hô hát bài chòi là cả một nghệ thuật diễn xướng tổng hợp, hội tụ đầy đủ các loại hình, các phương thức thế hiện đặc sắc, như có thơ, có nhạc, có hô, có hát, có múa rất rộn rã, nhộn nhịp, trong tiếng chiêng trống phụ họa rộn ràng.

Tùy theo quy mô tham gia lễ hội Bà Thu Bồn của nhân dân và du khách hành hương trong mỗi năm mà số đội tham gia hô hát bài chòi có sự tăng hay giảm chòi con. Quy mô lễ hội lớn thì có thêm một dàn nhạc gồm trống chiến, nhị, kèn, mõ và cũng có thể còn có cả trống chầu. Mỗi bộ bài chòi gồm có 36 quân bài được phân phối bởi người hiệu, người chạy cờ, được trang phục áo vạt hò, áo dài khăn đóng, áo quần bà ba, khăn chít đầu, lưng thắt đai...

Lễ nghi - lễ hội trong Lệ Bà Thu Bồn: những thay đổi từ những năm gần đây

Do chịu nhiều tác động ảnh hưởng về điều kiện địa lý tự nhiên, lịch sử - văn hóa, kinh tế - xã hội v.v... nên từ trước đến nay, Lệ Bà Thu Bồn đã có nhiều biến đổi, cả về lễ nghi, tính chất và cả trật tự lễ nghi, như:

- Bổ sung lễ nghi, hội hè: Lễ rước nước, các hoạt động vui chơi thể thao mới (cắm trại, các hội thi, hội diễn)

Từ năm 2003, Lệ Bà Thu Bồn được tổ chức quy mô trở lại sau bao năm kiệm ước, giản lược bởi sự chi phối của nhiều điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn. Ý tưởng tổ chức nghi lễ rước nước và rước kiệu Bà Ngũ Hành được hình thành và thực hiện, nhằm bổ sung, bù đắp cho sự mai một của nghi lễ rước sắc truyền thống, khi sắc bằng của Bà được triều đình phong kiến Nguyễn ban tặng đã không còn nữa do thiên tai, địch hoạ.

Từ sớm tinh mơ, kiệu rước nước được đặt trên một chiếc thuyền, thuyền khởi hành từ bên sông làng Thu Bồn, ngược dòng đi thẳng lên phía lăng Bà Phường Rạnh, làng Trung An, xã Quế Trung để lấy nước tinh khiết ngay khu vực giữa dòng, ở phía trước Lăng Bà Phường Rạnh.

Thuyền rước nước về đến bến sông làng Thu Bồn trong quang cảnh rộn ràng của đám rước, đợi kiệu rước nước để hoà mình cùng đoàn rước kiệu Ngũ Hành Nương Nương vào lăng viếng Bà.

Theo quy trình lề hội mới từ những năm gần đây thì phải đợi đến lúc đoàn rước nước về tới Lăng Bà, có cả kiệu rước Ngũ Hành Nương Nương, lễ chánh tế mới chính thức được bắt đầu, trong không gian thiêng liêng của lòng thành kính, dân làng Thu Bồn và khách thập phương tụ hội, dâng lên Bà những phẩm vật quý giá, tinh khiết.

Sau lễ chánh tế, theo nghi lễ truyền thống của làng Thu Bồn, mọi hoạt động hội hè, vui chơi giải trí dân gian ở khu vực sân bãi xung quanh Lăng Bà, trên bến dưới thuyền, đặc biệt là hội đua ghe truyền thống, mới chính thức bắt đầu.

Mọi người dân trong làng, khách thập phương nô nức đến dự Lệ Bà đều khao khát được dự phần “lộc Bà” với bao khát vọng phồn thực: cầu mùa, cầu tài lộc, khang ninh, cho mỗi cá nhân, gia đình cũng như cho cả cộng đồng.

Tuy nhiên, từ năm Canh Dần (2010) tục rước nước không được tổ chức như các năm trước đó nữa mà thay thế bằng lễ rước sắc phong theo nghi lễ truyền thống của làng.

Trước đây do không còn sắc phong thì đương nhiên, sẽ không thể tổ chức lễ rước sắc phong. Trong bối cảnh đó, ý tưởng thay thế lễ rước sắc phong bằng lễ rước nước, gắn liền với rước nước là rước kiệu Ngũ Hành ra đời đã kịp thời đáp ứng nhu cầu tâm linh của cộng đồng cư dân, mặt khác cũng nhằm làm phong phú thêm lễ nghi và hoạt động hội hè trong Lệ Bà Thu Bồn. Kết quả khảo sát thực tế trên địa bàn trong những năm 2009 - 2010 cho thấy rất rõ nhu cầu tín ngưỡng tâm linh cao cả đó của cộng đồng dân làng Thu Bồn nói riêng và du khách thập phương hành hương về dự lễ nói chung. 

- Những thay đổi từ ban tổ chức trong vấn đề trật tự lễ nghi:

Trong nghi lễ truyền thống của Lệ Bà Thu Bồn, mọi hoạt động - đặc biệt là tế lễ, hội hè - phải nhất nhất tuân thủ và căn cứ vào nghi lễ chánh tế, được diễn ra vào giờ Tý - rạng sáng ngày 12.2 âm lịch, sau khi làng đã rước sắc về Lăng Bà và làm lễ cáo yết Tiên thường vào chiều ngày hôm trước, ngày 11.2 âm lịch. Như vậy, tính thiêng của nghi lễ mới được bảo đảm và mối ràng buộc giữa không gian thiêng của lễ nghi bên trong Lăng Bà và không gian hội hè phía bên ngoài phải được đảm bảo một cách tuyệt đối.

Tuy nhiên, từ năm 2003 đến nay, phát xuất từ vai trò vệ tinh của Lệ Bà Thu Bồn trong tương quan tổng thể của trung tâm Thánh địa Mỹ Sơn, trong cách nhìn của một vùng di sản theo chủ trương của ngành văn hóa Quảng Nam, thì Lệ Bà Thu Bồn chính thức được giao cho UBND xã Duy Tân tổ chức có sự hỗ trợ của UBND huyện Duy Xuyên.

Lễ hội bà Thu Bồn ở thôn Trung An, xã Quế Trung, huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam: tổ chức từ ngày 10 đến 12 tháng  2 Âm lịch.

Dinh Bà Thu Bồn có từ lâu đời, trước năm 1945 thuộc làng Xuân Yên, tổng Trung Lộc, huyện Quế Sơn (nay là thôn Trung An, xã Quế Trung, huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam). Nơi đây còn có tên dân gian thường gọi là Phường Rạnh, do xưa kia vùng đất này là nơi giao thương buôn bán của cư dân miền sông nước Thu Bồn. Hàng hóa từ cảng thị Hội An ngược sông Thu Bồn lên Phường Rạnh neo đậu và buôn bán; đồng thời các lâm sản ở miền núi cũng theo sông Thu Bồn trở về xuôi, cập bến Phường Rạnh để giao thương, trao đổi hàng hóa.

Qua các truyền thuyết dân gian và những dấu vết còn lại cùng với Dinh Bà Thu Bồn ở Phường Rạnh như: cổng tiền, cổng hậu, vườn bà, ruộng bà, ao và giếng bà… chứng tỏ tín ngưỡng dân gian thờ Bà Thu Bồn đã có từ xa xưa. Cùng với các di tích, là Lễ hội Bà Thu Bồn truyền thống mang tính chất dân gian, được dân làng thôn Trung An tổ chức hằng năm gọi là Lễ hội Bà Thu Bồn được tổ chức từ mồng 10 đến 12 tháng  2 Âm lịch, dân gian thường gọi là ngày Lệ Bà.

Truyền thuyết dân gian về Bà Thu Bồn ở Phường Rạnh, làng Trung An, xã Quế Trung, huyện Quế Sơn cũng tương đồng với truyền thuyết Bà Thu Bồn ở làng Thu Bồn, xã Duy Tân, huyện Duy Xuyên, tuy nhiên cũng có một số dị bản, một trong những câu chuyện đó kể rằng, Bà là nữ tướng người Chăm xinh đẹp, có mái tóc dài mượt, đen tuyền, Bà có tài điều binh khiển tướng, từng chinh chiến nhiều trận mạc. Nhưng trong một lần giao tranh bị thất bại, trong thế bị động Bà cho quân sĩ men theo dòng sông chạy về hướng Tây khi đến Phường Rạnh (nay thuộc thôn Trung An, xã Quế Trung, huyện Nông Sơn) xét thấy địa hình núi sông hiểm trở trước sông sâu, sau có núi cao Bà đã cho quân lính tập trung lập doanh trại để án binh chờ cơ hội. Để ổn định quân tình, Bà cho quân lính đào giếng lấy nước sinh hoạt, trồng lúa nước để đảm bảo lương thực. Bà chỉ cho dân làng cách trồng các loại cây lương thực, hoa màu, chăn nuôi súc vật… Một trong những công trạng đáng chú ý của Bà đó là biết dùng những loại lá cây để chữa bệnh cho người và súc vật; dạy cho dân làng cách trồng cây thuốc để chữa bệnh. Cũng chính vì vậy mà ngày nay chúng ta nhìn thấy còn đó nào là ao Bà, giếng Bà, vườn Bà, ruộng Bà, ghềnh Bà… Một số địa danh đã trở thành những câu ca quen thuộc của người dân địa phương xã Trung An, huyện Quế Sơn:

“Ghềnh Bà cá lội tung tăng

Thác Ông chim gáy cát giăng bãi bồi”

Trong một lần giao chiến, mặc dù Bà và quân lính cố bám trụ đến cùng, nhưng đến lúc thế cùng lực kiệt, trong thế thất thủ hết khả năng chống trả, Bà gieo mình xuống dòng sông để tuẫn tiết, xác Bà trôi theo dòng nước về dưới miền xuôi.

Sau khi mất có nhiều giai thoại về sự hiển linh của Bà trong việc cứu nhân độ thế, phù hộ cho dân làng vượt qua bao thiên tai, bệnh tật, rủi ro; trong cuộc sống, giúp mưa thuận gió hòa, cây trái tốt tươi, mùa màng trĩu hạt.

Tiếng lành đồn xa, đến kinh thành triều đình nhà Nguyễn, xét thấy công trạng rất lớn với dân, với nước khi còn sống cũng như sự hiển linh của Bà Thu Bồn trong việc cứu nhân độ thế nên đã ban sắc phong cho Bà là “Mỹ đức thục hạnh Bô Bô phu nhân thượng đẳng thần”.

Từ xưa đến nay, để ghi nhớ công công trạng, cũng như sự hiển linh cứu nhân độ thế của Bà, cộng đồng nhân dân Phường Rạnh lễ hội tổ chức các hoạt động phần lễ như: lễ rước sắc, lễ rước nước, lễ tế bà, thả hoa đăng…phần hội như: hát tuồng, đua ghe, thi đấu bóng chuyền nữ, kéo co, đẩy gậy…tất cả đã điểm tô cho bức tranh sinh động, lung linh huyền ảo mà chủ thể là hình bóng mẹ Thu Bồn – người phụ nữ tài năng, đức độ, là người mẹ của quê hương, xứ sở mang sắc màu huyền bí, là biểu tượng của khát vọng đất nước thái bình. Nét đặc trưng ở đây là di tích còn hiện hữu các công trình kiến trúc, địa danh như: cổng tiền, cổng hậu, giếng Bà, ao Bà, vườn Bà, ghềnh Bà… tất cả đều gắn với các truyền thuyết về Bà, đều mang dậm màu sắc tín ngưỡng dân gian của cư dân miền sông nước.

Xuyên suốt lễ hội, trong nghi thức: lễ rước sắc, lễ rước nước, lễ tế Bà luôn thu hút được sự tham gia của dân làng địa phương và du khách đã làm cho điểm di tích này vốn đã huyền bí lại thêm lung linh, huyền ảo.

Để đảm bảo nghi thức uy nghiêm, lễ “rước sắc nhập Dinh” được tổ chức đầu tiên và luôn được dân làng chuẩn bị rất chu đáo. Ban tổ chức bố trí đoàn rước sắc với số lượng người rất đông, hầu như huy động gần 100% số hộ gia đình ở thôn tham gia. Lễ rước sắc mô phỏng lại cảnh quan quân triều đình nhà Nguyễn về tuyên chỉ sắc phong, có nhạc cụ, lọng, cờ, chinh cổ đi kèm. Những người khiêng kiệu sắc được dân làng tuyển chọn là những thiếu nữ xinh đẹp, chưa chồng, để bày tỏ lòng thành kính một mực hướng về Bà. Dân làng trong trang phục truyền thống, đàn ông áo dài khăn đóng, phụ nữ áo dài nón lá chỉnh tề cùng tham gia đoàn rước sắc.

Sau khi lễ cúng nhập Dinh Bà, sắc phong của Bà được nghinh toạ trên bàn thờ cao nơi chính điện. Theo quan niệm của dân làng, để cúng Bà theo ý nguyện, thì nước cúng và chế biến các món thành lễ vật để tế Bà phải được lấy từ giếng Bà, vì thế lễ rước nước được thực hiện liền kề sau lễ rước sắc. Giếng Bà nằm ở hướng Đông - Nam, cách Dinh khoảng 500m. Đây là nơi hội tụ nhiều mạch nước ngầm từ trong rừng chảy ra nên nước rất trong và mát. Ngày nay tại nơi đây vẫn còn thấy những mạch nước tự phun lên và không bao giờ cạn, nhân dân trong làng đã cải tạo, định vị thành “nội tỉnh ngoại hàm” (trong giếng ngoài ao) để ghi nhớ công trạng của Bà và cải thiện nguồn nước cung cấp ruộng Bà. Đoàn rước nước cúng xin Bà cho nghinh nước nhập Dinh, vị cao niên trong làng xuống “nghinh thuỷ nhập bình” sau đó những thiếu nữ tiếp tục múc nước vào bình, những đôi nam thanh, nữ tú múc nước đổ vào các chum và mang về Dinh. Khi đoàn nghinh nước đi ngang qua vườn Bà thì dừng lại cho “quân lính” vào vườn Bà hái lá về nấu nước dâng tế Bà. Hiện vẫn còn đó những cội chè lâu năm, những gốc cây cổ thụ. Vườn này được giao cho một hộ trong làng canh tác. Từ xưa đến nay, cây chè được trồng thường xuyên để tới dịp lệ Bà, chè được hái về nấu nước, dâng cúng Bà coi như thể hiện lòng thành kính “uống nước nhớ nguồn - ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Cũng như lễ rước sắc, nước và chè sau khi được rước về Dinh cúng làm lễ nhập điện theo tuần tự.

Trong lễ hội, Ban tế lễ bố trí không gian cho “nước Bà” là nước được rước về từ giếng Bà và một gian cho “thuốc Bà”; đây là những loại cây lá hái từ vườn Bà, theo những bài thuốc chữa bệnh thông thường trong dân gian. Nghi thức này mô tả lại công trạng của bà Bà trong việc chữa bệnh và truyền dạy cho dân làng cách dùng các loại cây thuốc để chữa bệnh.

Khi trời bắt đầu tối, nhân dân trong làng và nhiều nơi bắt đầu đổ về viếng hương. Người người về đây với lòng thành kính, tay cầm bó nhang, bình nước hay gói thuốc để vào khấn Bà cho được ý nguyện trong lòng. Với tâm niệm đến đây để xin “lộc Bà” người cái bánh, người trái cam, người ngồi dùng bữa để xin lộc, đã ít nhiều làm cho du khách, người đến viếng hương ra về như trút bỏ mọi lo toan, suy nghĩ khó khăn của cuộc đời và hy vọng tương lai tươi sáng hơn.

Khi du khách thưa dần, Ban tế lễ soạn hương hoa, chè nước, phẩm vật, thịt bê sống nguyên con, heo quay…để tế Bà. Sau khi chuẩn bị đầy đủ lễ vật, dân làng bắt đầu lễ tế. Lễ tế diễn ra trong lúc đêm khuya tĩnh lặng làm cho tiếng trống, chiêng, nhạc lễ và lời văn khấn vang vọng rất xa, tăng thêm phần trang nghiêm và huyền bí.

Lễ tế Bà kết thúc xong, theo tục lệ, Ban tế lễ xin một ít phẩm vật, hương hoa, xuống bến lên thuyền đã bố trí sẵn để thả hoa đăng. Trong chốc lát đã tạo thành dòng hoa đăng trải dài như mái tóc lấp lánh của người mẹ quê hương, xứ sở, mang sắc màu huyền bí. Khi hoa đăng vừa thả xong là lúc trời vừa hừng sáng; nghi thức này vừa mô phỏng lại cảnh bà trầm mình khi thất thủ, vừa là nghi lễ tiễn bà về xuôi.

Giá trị của văn hóa di sản phi vật thể:

Nhìn chung các hoạt động Lễ hội Bà Thu Bồn tại xã làng Thu Bồn, xã Duy Tân, huyện Duy Xuyên và làng Trung An, xã Quế Trung, huyện Nông Sơn tỉnh Quảng Nam là một hình thái văn hóa phi vật thể tín ngường thờ mẫu có quy mô lớn nhất tỉnh Quảng Nam. Lễ hội đã giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tín ngưỡng dân gian; nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho cộng đồng dân cư sống dọc theo hai bên bờ sông Thu Bồn; góp phần thúc đẩy phát triển du lịch nhất là du lịch văn hóa tâm linh ở Quảng Nam.

Lễ hội Bà Thu Bồn ở Quảng Nam mang giá trị nhân văn cao cả tiêu biểu trong đời sống tín ngưỡng dân gian của cư dân vùng duyên hải miền Trung Việt Nam. Thể hiện khát vọng phồn thực, cầu mùa màng bội thu, mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an cho cộng đồng làng xã.

Tín ngưỡng phồn thực là tín ngưỡng quan trọng của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, là nhu cầu, khát vọng, trở thành tín ngưỡng phổ quát của con người, nhằm đem đến cho con người cuộc sống đủ đầy, hạnh phúc hơn theo hệ quan niệm chuẩn mực. Tất cả, hoàn toàn tùy thuộc thế giới quan, nhân sinh quan của mỗi một cộng đồng. Nhưng đáng nói là vẫn có thể lần tìm những dấu tích còn lại sau cùng trên vùng đất miền Trung, từ dân gian tới cung đình, đồng bằng cũng như miền núi.

Hiến tế là nghi lễ làm cho một người, một vật trở thành thiêng liêng để chứng tỏ sự lệ thuộc, phục tùng, ăn năn, cầu mong và khát vọng của con người. Vật hiến tế càng quý, năng lượng tinh thần thu được càng lớn. Từ những nền văn minh nông nghiệp cổ xưa, con người đã quan sát thấy những tia nắng mặt trời và hơi ẩm của đất quyết định đến sự sinh trưởng của cây cối. Mối giao hòa Trời - Đất có liên hệ trực tiếp đến sự sinh sôi nảy nở của vạn vật. Đó chính là vấn đề then chốt cho sự ra đời của triết lý Âm Dương như người Trung Hoa tổng kết - xuất phát điểm của tín ngường phồn thực. Tuy nhiên, mối giao hòa đó cũng có lúc trục trặc, ảnh hưởng xấu đến nhu cầu phồn thực, cần có sự thông linh qua những cầu nối, chất xúc tác tự nhiên cũng như nhân tạo, bao gồm những yếu tố núi cao, cây cao, cột đá, cây cột lễ đâm trâu... Nhu cầu con người, từ đó, phải xác lập những chất xúc tác cần thiết cho quá trình thông linh diễn ra tối ưu nhất: máu của vật hiến sinh.

Chủ nhân những nền văn minh tối cổ quan niệm máu đồng loại là quý giá nhất, chất xúc tác tốt nhất cho sự thông linh đó, nhằm đạt đến mục đích cao cả nhất là khát vọng cầu mùa. Cho nên, vật hiến sinh đầu tiên là những thành viên quý giá nhất: Hài Đồng, Trinh Nữ.

Về sau, văn minh nhân loại tiến sang một bước là thay thế đồng loại cao quý bằng Kẻ thù - Tù binh. Đặc biệt ở bước tiến thứ ba, con người đã thực sự thay thế đồng loại bằng Những con vật quý giá nhất, to, đẹp, lông trắng: Voi trắng - Trâu trắng - Dê trắng - Heo trắng, sau cùng là đến Gà. Và, có thể coi bước chuyển tiếp sau cùng là sự chuyển hóa từ Con Vật sang vật dụng: hàng mã (các loại tranh hình nhân thế mạng).

Từ đây, có thế tham chiếu để nêu bật và khẳng định giá trị biểu tượng của con sinh là nghé chông trong Lệ Bà Thu Bồn, với ý nghĩa hiện khát vọng phồn thực, cầu mùa cao cả cho cuộc sống cộng đồng, đặc biệt là ước nguyện mưa thuận gió hoà, quốc thái dân an.

Trong quá trình tiến hành nghi lễ tế sinh, có thể nhận thấy dấu vết còn rơi rớt lại của tục đâm trâu mang đậm ảnh hưởng của dấu ấn văn hóa bản địa tiền Việt và phi Việt trong hình tượng nghé chông của cộng đồng cư dân làng Thu Bồn. Trong đó, đáng chú ý chính là việc để con sinh còn sống nguyên con, được chông trên bàn chông và trên toàn bộ bề mặt của con sinh, lại được bôi hoàn toàn bằng huyết tươi, mang đậm dấu ấn rõ nét của nghi lề phồn thực - cầu mùa của tục hiến sinh cổ xưa trong lịch sử hiến sinh của nhân loại trên dải đất miền Trung này.

Lễ hội Bà Thu Bồn ở hai địa phương làng Thu Bồn, xã Duy Tân, huyện Duy Xuyên và làng Trung An, xã Quế Trung, huyện Nông Sơn tỉnh Quảng Nam còn giữ được những giá trị văn hóa truyền thống, mối quan hệ giao thoa, đan xen và tiếp biến giữa văn hóa Việt và văn hóa Chămpa trong quá trình người Việt mở mang bờ cõi, lập làng từ thế kỷ XIV đến ngày nay.

Lễ hội Bà Thu Bồn ở Quảng Nam là lễ hội rất độc đáo, cùng một lễ hội nhưng ở hai làng dọc sông Thu Bồn cùng tổ chức với những nét đặc trưng riêng biệt nhưng thống nhất trong một lễ hội tín ngưỡng dân gian.

Hiện trạng di sản văn hóa phi vật thể:

Lễ hội Bà Thu Bồn là lễ hội truyền thống được cộng đồng nhân dân làng Thu Bồn, xã Duy Tân, huyện Duy Xuyên và ở làng Trung An, xã Quế Trung, huyện Nông Sơn tỉnh Quảng Nam được tổ chức leo lệ hằng năm và được nhân đân tôn kính, không những cộng đồng nhân dân thuộc lưu vực sông Thu Bồn, Quảng Nam mà còn ảnh hưởng đến cả vùng duyên hải miền Trung từ Quảng Nam đến Ninh Thuận.

Ở làng Trung An, xã Quế Trung, huyện Quế Sơn, hằng năm, vào ngày mồng 10-12 tháng 2 Âm lịch, cư dân sống ở ven dòng sông Thu Bồn lại nô nức tổ chức Lễ hội bà Thu Bồn nhằm tri ân sự chở che của bà đối với người dân sống trên bờ cũng như trên sông nước được bình an, no ấm, mùa màng tươi tốt, bội thu.

Ngay từ trước ngày diễn ra lễ hội, ban nghi lễ gồm các bô lão trong làng đã chuẩn bị lễ vật đầy đủ về lăng Bà (thôn Trung An, xã Quế Trung) để cúng tế.

Tục lệ năm nào cũng vậy, lễ vật cúng gồm có một con trâu to khoẻ (trâu tế sau khi bị giết, không xẻ thịt hay nấu chín mà để nguyên con, dùng huyết của nó bôi lên lăng để cúng) và mâm xôi lớn cùng nhiều hương, hoa, quả, trầu cau, gạo, muối, áo giấy…

Toàn bộ các hoạt động tại lễ hội Bà Thu Bồn đều được gắn liền với các di tích còn hiện hữu như: Lễ rước sắc, gắn liền với sắc phong “36 chức” do triều đình nhà Nguyễn ban tặng. Lễ rước nước lại gắn liền với giếng Bà; vườn thuốc của Bà và sự hiển linh cứu nhân độ thế của bà được mô phỏng qua việc bố trí gian “thuốc Bà”, “nước Bà” tại lễ hội. Nghi thức thả hoa đăng mô tả lại cảnh trầm mình xuống sông của Bà khi thất thủ, cũng là nghi lễ tiễn bà về xuôi (Lăng Bà ở Duy Tân, Duy Xuyên). Phần hội cũng được tổ chức nhiều hoạt động đan xen trong phần lễ nhưng hoạt động mang tính thường niên là hát tuồng để phục vụ bà con vì đây là loại hình nghệ thuật dân gian cũng có từ rất lâu đời và đua thuyền trên sông Thu Bồn là hoạt động gắn liền với phong tục, tập quán của đại bộ phân nhân dân sống dọc hai bên bờ sông Thu Bồn.

Lễ hội Bà Thu Bồn ở Quảng Nam có sức lan tỏa rất rộng lớn, được cộng đồng nhân dân vùng duyên hải miền Trung biết đến tương tự như Lễ Điện Hòn Chén ở thành phố Huế. Lễ hội Bà Thu Bồn ở Quảng Nam từ xưa đến nay đã trở thành tín ngưỡng linh thiêng bất biến, luôn được người dân Quảng Nam gìn giữ, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc.

Trong thời gian đến, với sự quan tâm của các cấp, ngành liên quan nhằm để mở rộng về quy mô, làm phong phú và sinh động hơn về nội dung và hình thức, công tác quảng bá được chú trọng thì Lễ hội Bà Thu Bồn ở Quảng Nam sẽ tạo được dấu ấn bởi những yếu tố văn hóa phi vật thể đậm chất dân gian và sẽ trở thành một điểm du lịch hấp dẫn, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế, nhất là du lịch ở địa phương và trong vùng.

Với những giá trị hiện hữu, Lễ hội truyền thống Lễ hội Bà Thu Bồn của xã Duy Tân, huyện Duy Xuyên và xã Quế Trung huyện Nông Sơn đã được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia theo quyết định số 2731/QĐ-BVHTTDL ngày 30 tháng 9 năm 2020.

Nông Sơn quyết tâm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể quốc gia- Lễ hội Bà thu Bồn:

Ngay sau khi được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia, huyện Nông Sơn đã khẩn trương hoàn thiện đề án Khu du lịch Dinh Bà Thu Bồn, tiếp tục khảo sát, thu thập thông tin, hoàn thiện lại lý lịch phục vụ cho công tác thuyết minh, phát triển du lịch sau này, liên hệ với Sở VH,TT&DL tỉnh Quảng Nam để tiến hành phục dựng sắc phong của Bà theo ý nguyện của người dân thôn Trung An, phối hợp với Phòng VH&TT huyện Duy Xuyên để có kế hoạch tổ chức nâng tầm lễ hội truyền thống của 2 địa phương trong thời gian đến.

Ông Trịnh Tống - an vị sắc phong Bà
Ông Trịnh Tống - an vị sắc phong Bà

Tác giả: Tôn Thất Hướng - Thanh Lục


[Trở về]

Các tin mới hơn:

Các tin cũ hơn:

ĐĂNG NHẬP

Tài khoản  
 
Tên Video
No records to display.








Bản quyền Ủy ban nhân dân huyện Nông Sơn
Giấy phép số: 07/GP-TTĐT cấp ngày 29/9/2017
Địa chỉ: Thôn Trung Hạ, xã Quế Trung, huyện Nông Sơn, Tỉnh Quảng Nam.
Điện thoại: 0235 3650 888 - Fax: 02353 650 557
Phát triển bởi Trung Tâm Công Nghệ Thông Tin & Truyền Thông Quảng Nam (QTI)